Người ta có thể tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Cách tiếp cận triết học là phân biệt văn hóa với thế giới tự nhiên, cái gì không phải thuộc về tự nhiên là thuộc về văn hóa. Nói cách khác, cái gì do con người làm ra hoặc có liên quan đến con người thì đó là văn hóa, nhưng lại không nêu được văn hóa là cái gì, văn hóa bao gồm những nội dung gì và được biểu hiện ra như thế nào.
Tiếp cận văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, tri thức, học vấn...thực hiện được nhiệm vụ xác định văn hóa cụ thể là cái gì, nhưng lại mang tính phiến diện, thiếu bao quát; mặt khác, thống kê các nội dung cụ thể của văn hóa một cách đầy đủ là điều không thể thực hiện được.
Có thể tiếp cận văn hóa theo hệ thống giá trị vật chất và tinh thần hoặc theo những giá trị chuẩn mực của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử. Nếu tiếp cận theo con đường này sẽ gặp khó khăn là: trong khi văn hóa là những yếu tố tiến bộ, tích cực, những cái Chân - Thiện - Mỹ thì trong hệ thống giá trị vật chất và tinh thần lại bao gồm cả những mặt tốt và mặt xấu, tích cực và tiêu cực. Hoặc nếu cho rằng văn hóa là những giá trị chuẩn mực thì trong thực tế có những suy nghĩ, hoạt động của con người đòi hỏi đạt đến trình độ giá trị chuẩn mực, nhưng cũng có nhiều suy nghĩ, hoạt động, ứng xử của họ chỉ thuần túy do thói quen mà thôi.
Một số định nghĩa nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa, nghĩa là nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong sinh hoạt và bản tính người trong văn hóa. Cách tiếp cận này có thể phân biệt được văn hóa là một hiện tượng xã hội, là nét đặc trưng của con người, nó đối lập và khác với thế giới tự nhiên. Ccahs tiếp cận văn hóa như trên chưa nói nêu lên được vai trò của cá nhân và tính sáng tạo trong văn hóa. Thực tế cho chúng ta thấy giữa cá nhân - xã hội và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Văn hóa là những gì tiêu biểu, đặc trưng của một tộc người nhất định nhưng văn hóa khi biểu hiện ra thường được bộc lộ thông qua những suy nghĩ, hành động, ứng xử của một con người cụ thể. Do đó, trong văn hóa vừa có tính xã hội, vừa bao gồm cả tính cá nhân, văn hóa vừa là sự phản ánh những quan niệm, những thói quen, những giá trị truyền thống của cộng đồng xã hội, vừa phản ánh tư tưởng, tình cảm, năng lực của mỗi cá nhân. Chính vì lẽ đó mà văn hóa luôn luôn biến đổi, phát triển nhờ sự sáng tạo có ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và thể hiện bản sắc của mỗi tộc người.
Với cách tiếp cận như trên, người ta dễ đi đến nhận xét, đánh giá trình độ phát triển cao hay thaaspp của một nền văn hóa, mà về bản chất văn hóa chỉ thể hiện sự khác nhau giữa các tộc người, chứ không có sự phân biệt cao - thấp trong văn hóa. Chúng ta không thể cho rằng những dân tộc ăn bốc ( dùng mười đầu ngón tay đưa thức ăn vào miệng) là có trình độ thấp hơn các dân tộc dùng thìa, dĩa, đũa trong bữa ăn, hoặc chúng ta cũng không thể kết luận rằng những dân tộc dùng ô tô là có văn hóa cao hơn những dân tộc đi bộ và đi xe đạp. Hiện nay, ở nhiều thị trấn thuộc các nước Bắc Âu, mặc dù đời sống cư dân ở đây vào loại cao nhất thế giới nhưng họ lại thích đi bộ và đi xe đạp.
Nội dung về bản sắc văn hóa của các tộc người ở đây cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng bản sắc văn hóa tộc người chỉ bao gồm những cái gì riêng có của tộc người đó. Nhưng cách hiểu đúng đắn hơn về bản sắc văn hóa là bản sắc văn hóa bao gồm cả cái riêng và cái chung, bao gồm cả những sắc thái văn hóa tộc người, văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại. Chính tổng thể hệ thống những khía cạnh văn hóa đó giúp chúng ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác trong một thế giới mang tính nhân loại.
TS. Phạm Ngọc Trung ( chủ biên): Giáo trình lý luận văn hóa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét