+ Hướng tiếp cận theo chức năng của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo giá trị, chuẩn mực của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo phương thức nhấn mạnh hoạt động sản xuất vật chất của các tộc người trong lịch sử để tạo nên văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo ý nghĩa của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận đề cao tính xã hội của văn hóa đối lập với tự nhiên.
+ Hướng tiếp cận đề cao đạo đức, nhân cách con người.
Mỗi hướng tiếp cận nêu trên đều có những đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu khám phá, nghiên cứu bản chất văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện tâm lý khác nhau, cugnx như trong những chiều cạnh khác nhau của những hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên môi trường xã hội và với chính bản thân con người.
Cách đây hai nghìn năm, ngay từ thời La Mã cổ đại, nhà hùng biện Xixezon đã nói tới văn hóa tinh thần và ông đã nhấn mạnh triết học là văn hóa tinh thần. Ở phương Đông, trong nền văn hóa cổ đại Trung Quốc, Mạnh Tử cho rằng văn hóa chính là sự giáo hóa, giáo dục con người.
Từ năm 1774, Puphendooc - luật gia người Đức - đã định nghĩa: văn hóa là toàn bộ hoạt động mang tính xã hội của con người, văn hóa là cái đối lập với tự nhiên.
Một triết gia người Đức cùng thời với Puphendooc, ông Hecde, lại cho rằng: văn hóa là sự sinh ra con người lần thứ hai. Ông muốn nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa.
Trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy ( năm 1871), E.B Taylor đã viết: "Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọt số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội".
Ở định nghĩa này, Taylor đã nhấn mạnh đến những nội dung tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật và các nội dung thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần của con người, đồng thời ông cũng chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa văn hóa với con người với tư cách là thành viên xã hội. Nhưng đáng tiếc tác giả đã đồng nhất khái niệm văn hóa với văn minh, nên không nêu lên được bản chất của văn hóa trong cấu trúc toàn diện cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Nhà văn hóa học người Nga, E.E.Orlova lại cho rằng: "Cần phải hiểu văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa với tư cách một hệ thống."
Cacbop, nhà văn hóa học người Nga định nghĩa: "Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người. Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp, có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội".
Các định nghĩa về văn hóa nói trên đã nêu được tính chỉnh thể, tính hệ thống của văn hóa và nhấn mạnh đến văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người.
A.Mole - một học giả người Pháp lại đồng nghĩa văn hóa với trí tuệ của con người.
Theo Gi.Neru, văn hóa là sự phát triển nội tại của mỗi một con người, là cách ứng xử và cách làm cho người khác hiểu mình.
Năm 1988, nhân dịp lễ phát động Thập kỷ Thế giới phát triển của văn hóa ( 1988 - 1991), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới ( UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống tín ngưỡng."
Trong khi nhiều người quan niệm văn hóa chỉ là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực học thuật, tư tưởng, tinh thần thì học giả Đào Duy Anh quan niệm: "Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý - khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên các phương diện khác nhau của dân tộc đó". Đào Duy Anh tập trung giải thích văn hóa và cách sinh hoạt của con người, là toàn bộ hoạt động sống của con người.
Giáo sư Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: "Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, học vấn...và tùy trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ, xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi từ bàn tay của con người."
Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: "Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình. Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định."
Giáo sư Hà Văn Tấn đã nhấn mạnh đến những hệ thống ứng của con người và những chuẩn mực được thể hiện ra trong mọi sinh hoạt, mọi hành vi, mọi nếp nghĩ, từ cách ăn, cách ở, cách lao động sản xuất đến cách sinh hoạt và ứng xử.
Giáo sư Vũ Khiêu và giáo sư Nguyễn Hồng Phong lại nhấn mạnh đến "tính Người" của văn hóa. Các tác giả quan niệm rằng: Văn hóa là nhân hóa, là sự phát triển, tách rời của con người khỏi giới động vật.
Giáo sư Trần Ngọc Thêm theo cách tiếp cận hệ thống và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản của văn hóa đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội."
Trong định nghĩa văn hóa của mình, giáo sư Trần Ngọc Thêm đã nhấn mạnh đến tính hệ thống, tính giá trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị nhất thời, giá trị và phi giá trị....), tính nhân sihn và tính lịch sử ( nói đến quá trình tích lũy, trình độ phát triển, truyền thống văn hóa, những khuôn mẫu được đúc kết thành phong tục, tập quán...)
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc có một cách tiếp cận khái niệm văn hóa độc đáo. Ông cho rằng văn hóa chính là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại, là sự lựa chọn của con người.
Trong cuốn sách Văn hóa học Việt Nam, sau khi thống kê một số định nghĩa khác nhau về văn hóa, Nguyễn Đăng Duy đã cho rằng: Nếu xem xét văn hóa dưới góc độ toàn bộ những giá trị vật chất thì chưa ổn. Bởi vì, có những giá trị vật chất do con người sáng tạo ra những không thể gọi là văn hóa như vũ khí chẳng hạn. Hoặc cho rằng những gì không thuộc về tự nhiên thì thuộc về văn hóa cũng chưa thuyết phục vì có những cái trung tính như thóc gạo làm ra không phải là văn hóa mà chỉ là sản phẩm của văn minh. Ông cũng cho rằng, nhiều định nghĩa về văn hóa tập trung thể hiện văn hóa bao gồm và được biểu hiện ra ở những mặt nào, chưa chưa nói lên được văn hóa là gì theo đúng nghĩa khoa học. Mặt khác, các định nghĩa chưa đề cập được hai đặc tính của văn hóa: vừa là mục tiêu vươn tới, vừa là động lực thúc đẩy phát triển xã hội.
Theo Nguyễn Đăng Duy, "Văn hóa là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong mọi lối sống, nếp sống vật chất và tinh thần của một cộng đồng người hay một quốc gia."
Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mac- Lenin của khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, sau khi phân tích, kế thừa kiến thức của nhà khoa học trong và ngoài nước đã định nghĩa văn hóa như sau: " Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc".
Trong định nghĩa này, nhóm tác giả đã nhấn mạnh một số tính chất cơ bản của văn hóa, đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính thực tiễn, tính xã hội, tính kế thừa, tính đặc trưng của mỗi dân tộc.
Theo Từ điển triết học, "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kihn nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần ( khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục...) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội."
Từ điển Petit Larousse của Pháp định nghĩa: văn hóa là toàn thể những cấu trúc xã hội, tôn giáo....những biểu thị trí tuệ, nghệ thuật....đặc tính của xã hội.
Malinowki thì cho rằng: Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị.
L.White định nghĩa: Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng hoặc phụ thuộc vào biểu trưng đó.
Giáo sư Phạm Xuân Nam đinh nghĩa: Văn hóa là sự hiểu biết của con người, nó định hướng cho cách ứng xử và bao gồm những cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất.
TS. Phạm Ngọc Trung ( Chủ biên): Giáo trình lý luận văn hóa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét