Từ những phân tích trên có thể đưa ra một hướng tiếp cận mới về văn hóa như sau:
Văn hóa là tổng thể hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những khả năng, những hoạt động có ý thức, mang tính xã hội và sáng tạo trong thực tiễn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng đó.
Định nghĩa này tập trung nhấn mạnh một số nội dung cơ bản:
Văn hóa là một hiện tượng phức tạp, bao gồm rất nhiều nội dung thuộc các lĩnh vực khác nhau: vật chất và tinh thần, sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật và nghệ thuật, kinh tế và chính trị, xã hội và tâm linh....Do đó, khái niệm văn hóa cần được xem xét, nghiên cứu với cách nhìn là tổng thể hệ thống các vấn đề thì mới có khả năng bao quát được các nội dung khác nhau của văn hóa. Trong tổng thể hệ thống đó, các hệ thống và các vi hệ thống thể hiện các bộ phận, các lĩnh vực khác nhau của văn hóa, do các ngành học cơ bản hoặc các chuyên ngành khoa học khác nhau nghiên cứu. Những kết luận khoa học rút ra từ kết quả nghiên cứu liên ngành - đó chính là văn hóa học.
Văn hóa bao gồm những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những khả năng, những hoạt động của con người.
Văn hóa là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả cái cụ thể lẫn cái trừu tượng, bao gồm cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần được kết tinh trong lịch sử cũng như những giá trị mới được hình thành; văn hóa bao gồm từ những tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội và tư duy đến những thói quen, những khả năng, những hoạt động bình thường của con người trong cuộc sống hằng ngày. Những thói quen, những khả năng, những hoạt động đó được thực hiện một cách hoàn toàn tự nguyện và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Mỗi tộc người có những hệ giá trị và hệ chuẩn mực khác nhau, thậm chí đối lập nhau, điều đó do điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và hoàn cảnh lịch sử quy định. Chính vì thế, khi văn hóa học nghiên cứu các hệ giá trị, hệ chuẩn mực của một cộng đồng người nào đó có thể phục dựng lại được đặc điểm, mô hình, cấu trúc, tính chất của những xã hội đã qua hoặc nhìn nhận, phát hiện ra những bất cập, lệch lạc của xã hội hiện tại. Thông qua đó, có thể đưa ra những dự báo, những nhận định nhằm khắc phục những hạn chế, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Văn hóa bao gồm những hoạt động của con người trong các lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất, chiến đấu bảo vệ độc lập, hòa bình hoặc ứng xử với các thần linh, ứng xử với các thành viên trong cộng đồng.
Văn hóa cần được hiểu vừa theo nghĩa rộng, vừa theo nghĩa hẹp, vừa mang tính cộng đồng, vừa mang tính cá nhân. Nhưng bản chất của văn hóa phải được thể hiện thông qua những hoạt động có ý thức, mang tính xã hội và sáng tạo trong thực tiễn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử.
Bản chất của văn hóa là tiến bộ và có ý thức. Ý thức ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là những nhận thức, tri thức, hiểu biết đúng đắn, khoa học, phù hợp với lợi ích cộng đồng. Trong ý thức bao gồm cả vô thức và bản năng phản ánh những thói quen, những quan niệm từ ngàn đời đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ. Những hoạt động thiếu ý thức không thuộc nội hàm của văn hóa,
Văn hóa phải mang tính xã hội và tính sáng tạo vì trong văn hóa là những hoạt động thể hiện bản chất người với tư cách là thành viên xã hội. Con người không thể sống ngoài xã hội. Chính các tổ chức xã hội như gia đình, làng xóm, quốc gia....đã nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc để con người phát triển toàn diện, hài hòa và văn hóa của một tộc người chỉ được hình thành và phát triển trong một cộng đồng xã hội.
Tính sáng tạo của văn hóa là điều kiện để cho văn hóa phát triển và nền văn hóa của tộc người này khác với nền văn hóa của tộc người khác. Nếu thiếu tính sáng tạo thì vai trò của mỗi cá nhân không được thể hiện ra và bản sắc của mỗi nền văn hóa cũng không được hình thành. Không có sáng tạo thì văn hóa không có sức sống và sự phát triển đa dạng như hiện nay.
Ví dụ: Phật giáo Ấn Độ vừa giống vừa khác Phật giáo Việt Nam ở cả Kinh, luật, luận. Theo các bộ Kính Thử Lăng Nghiêm, Bát Nhã, Hiền Ngu thì Quan Thế Âm Ấn Độ được thể hiện là nam thần và có tới 37 tiểu tượng khác nhau, nhưng người Việt đã sáng tạo ra Quan Thế Âm mang dáng vẻ nữ thần.
Văn hóa bao giờ cũng phải gắn với hoạt động thực tiễn của một cộng đồng người nhất định. Không có một nền văn hóa chúng chung cho mọi tộc người, mọi không gian và thời gian. Chính nhờ hoạt động thực tiễn mà văn hóa đã hình thành và phát triển. Thông qua hoạt động thực tiễn chinh phục tự nhiên, phát triển sản xuất mà con người hoàn thiện chính bản thân mình và hình thành những hiểu biết, những tri thức, những thiết chế xã hội, những tổ chức giúp cho con người có thể phát huy hết khả năng của mình. Hoàn cảnh lịch sử cũng là những nhân tố góp phần tạo nên các giá trị văn hóa, các năng lực và thói quen của mỗi cộng đồng để tạo nên bản sắc văn hóa.
Cuối cùng, văn hóa chính là những hoạt động, những thói quen, những giá trị nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống con người. Chính những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống là mục tiêu mà văn hóa hướng tới. Trong những nhu cầu của cuộc sống thì những nhu cầu ăn, mặc, ở, và đi lại là những nhu cầu cần thiết nhất và cũng thể hiện đặc tính của mỗi dân tộc một cách rõ nét nhất. Ngoài ra, những nhu cầu về giao lưu trao đổi, nhu cầu về được giáo dục, học hành và những nhu cầu khác về tâm linh, tín ngưỡng,....cũng hết sức quan trọng. Tùy theo trình độ phát triển ở các giai đoạn lịch sử khác nhau mà nhu cầu của con người cũng khác nhau. Cũng có những nhu cầu mang tính cấp thiết, cụ thể với tộc người này, nhưng lại không cần thiết ở tộc người khác. Cũng có nhu cầu tưởng chừng trừu tượng, viển vông nhưng lại vô cùng cần thiết để con người có cuộc sống thanh thản, hài hòa nơi trần thế. Văn hóa là một tổng thể hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những khả năng và những hoạt động của một tộc người nào đó để phân biệt với những tộc người khác. Đó chính là bản sắc của mỗi tộc người.
Tóm lại, khái niệm về văn hóa nêu trên nhấn mạnh đến tính tổng thể hệ thống của văn hóa cùng với tính giá trị, tính chuẩn mực, tính ý thức, tính xã hội, tính sáng tạo, tính thực tiễn và tính lịch sử của văn hóa. Ở đây, các câu hỏi văn hóa là cái gì? Văn hóa bao gồm những nội dung gì, văn hóa do ai sáng tạo? Văn hóa được biểu hiện ra như thế nào? Những đặc tính chủ yếu của văn hóa là gì? Mục tiêu của văn hóa là gì?....đều đã được đề cập.
VIỆT NAM - VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN
Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014
Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014
Đặc điểm của các định nghĩa về văn hóa
Có thể thống kê hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng chỉ với số lượng định nghĩa đã nêu cũng đã chứng tỏ sự đa dạng, phức tạp và sự khó đồng thuận, thống nhất trong quá trình đi tìm một định nghĩa bao quát về văn hóa. Từ năm 1952, các học giả Mỹ là Kroeber và Kluckhom đã thống kê được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa và các ông cho rằng văn hóa là một khái niệm rộng, lung lung, hư hư thực thực, mờ mờ ảo ảo như không khí mà con người chỉ có thể cảm nhận được nó chứ không thể hiểu biết được nó. Trong tập hợp những định nghĩa kể trên nổi lên một số vấn đề cơ bản sau đây:
Người ta có thể tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Cách tiếp cận triết học là phân biệt văn hóa với thế giới tự nhiên, cái gì không phải thuộc về tự nhiên là thuộc về văn hóa. Nói cách khác, cái gì do con người làm ra hoặc có liên quan đến con người thì đó là văn hóa, nhưng lại không nêu được văn hóa là cái gì, văn hóa bao gồm những nội dung gì và được biểu hiện ra như thế nào.
Tiếp cận văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, tri thức, học vấn...thực hiện được nhiệm vụ xác định văn hóa cụ thể là cái gì, nhưng lại mang tính phiến diện, thiếu bao quát; mặt khác, thống kê các nội dung cụ thể của văn hóa một cách đầy đủ là điều không thể thực hiện được.
Có thể tiếp cận văn hóa theo hệ thống giá trị vật chất và tinh thần hoặc theo những giá trị chuẩn mực của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử. Nếu tiếp cận theo con đường này sẽ gặp khó khăn là: trong khi văn hóa là những yếu tố tiến bộ, tích cực, những cái Chân - Thiện - Mỹ thì trong hệ thống giá trị vật chất và tinh thần lại bao gồm cả những mặt tốt và mặt xấu, tích cực và tiêu cực. Hoặc nếu cho rằng văn hóa là những giá trị chuẩn mực thì trong thực tế có những suy nghĩ, hoạt động của con người đòi hỏi đạt đến trình độ giá trị chuẩn mực, nhưng cũng có nhiều suy nghĩ, hoạt động, ứng xử của họ chỉ thuần túy do thói quen mà thôi.
Một số định nghĩa nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa, nghĩa là nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong sinh hoạt và bản tính người trong văn hóa. Cách tiếp cận này có thể phân biệt được văn hóa là một hiện tượng xã hội, là nét đặc trưng của con người, nó đối lập và khác với thế giới tự nhiên. Ccahs tiếp cận văn hóa như trên chưa nói nêu lên được vai trò của cá nhân và tính sáng tạo trong văn hóa. Thực tế cho chúng ta thấy giữa cá nhân - xã hội và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Văn hóa là những gì tiêu biểu, đặc trưng của một tộc người nhất định nhưng văn hóa khi biểu hiện ra thường được bộc lộ thông qua những suy nghĩ, hành động, ứng xử của một con người cụ thể. Do đó, trong văn hóa vừa có tính xã hội, vừa bao gồm cả tính cá nhân, văn hóa vừa là sự phản ánh những quan niệm, những thói quen, những giá trị truyền thống của cộng đồng xã hội, vừa phản ánh tư tưởng, tình cảm, năng lực của mỗi cá nhân. Chính vì lẽ đó mà văn hóa luôn luôn biến đổi, phát triển nhờ sự sáng tạo có ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và thể hiện bản sắc của mỗi tộc người.
Với cách tiếp cận như trên, người ta dễ đi đến nhận xét, đánh giá trình độ phát triển cao hay thaaspp của một nền văn hóa, mà về bản chất văn hóa chỉ thể hiện sự khác nhau giữa các tộc người, chứ không có sự phân biệt cao - thấp trong văn hóa. Chúng ta không thể cho rằng những dân tộc ăn bốc ( dùng mười đầu ngón tay đưa thức ăn vào miệng) là có trình độ thấp hơn các dân tộc dùng thìa, dĩa, đũa trong bữa ăn, hoặc chúng ta cũng không thể kết luận rằng những dân tộc dùng ô tô là có văn hóa cao hơn những dân tộc đi bộ và đi xe đạp. Hiện nay, ở nhiều thị trấn thuộc các nước Bắc Âu, mặc dù đời sống cư dân ở đây vào loại cao nhất thế giới nhưng họ lại thích đi bộ và đi xe đạp.
Nội dung về bản sắc văn hóa của các tộc người ở đây cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng bản sắc văn hóa tộc người chỉ bao gồm những cái gì riêng có của tộc người đó. Nhưng cách hiểu đúng đắn hơn về bản sắc văn hóa là bản sắc văn hóa bao gồm cả cái riêng và cái chung, bao gồm cả những sắc thái văn hóa tộc người, văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại. Chính tổng thể hệ thống những khía cạnh văn hóa đó giúp chúng ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác trong một thế giới mang tính nhân loại.
Người ta có thể tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Cách tiếp cận triết học là phân biệt văn hóa với thế giới tự nhiên, cái gì không phải thuộc về tự nhiên là thuộc về văn hóa. Nói cách khác, cái gì do con người làm ra hoặc có liên quan đến con người thì đó là văn hóa, nhưng lại không nêu được văn hóa là cái gì, văn hóa bao gồm những nội dung gì và được biểu hiện ra như thế nào.
Tiếp cận văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, tri thức, học vấn...thực hiện được nhiệm vụ xác định văn hóa cụ thể là cái gì, nhưng lại mang tính phiến diện, thiếu bao quát; mặt khác, thống kê các nội dung cụ thể của văn hóa một cách đầy đủ là điều không thể thực hiện được.
Có thể tiếp cận văn hóa theo hệ thống giá trị vật chất và tinh thần hoặc theo những giá trị chuẩn mực của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử. Nếu tiếp cận theo con đường này sẽ gặp khó khăn là: trong khi văn hóa là những yếu tố tiến bộ, tích cực, những cái Chân - Thiện - Mỹ thì trong hệ thống giá trị vật chất và tinh thần lại bao gồm cả những mặt tốt và mặt xấu, tích cực và tiêu cực. Hoặc nếu cho rằng văn hóa là những giá trị chuẩn mực thì trong thực tế có những suy nghĩ, hoạt động của con người đòi hỏi đạt đến trình độ giá trị chuẩn mực, nhưng cũng có nhiều suy nghĩ, hoạt động, ứng xử của họ chỉ thuần túy do thói quen mà thôi.
Một số định nghĩa nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa, nghĩa là nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong sinh hoạt và bản tính người trong văn hóa. Cách tiếp cận này có thể phân biệt được văn hóa là một hiện tượng xã hội, là nét đặc trưng của con người, nó đối lập và khác với thế giới tự nhiên. Ccahs tiếp cận văn hóa như trên chưa nói nêu lên được vai trò của cá nhân và tính sáng tạo trong văn hóa. Thực tế cho chúng ta thấy giữa cá nhân - xã hội và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Văn hóa là những gì tiêu biểu, đặc trưng của một tộc người nhất định nhưng văn hóa khi biểu hiện ra thường được bộc lộ thông qua những suy nghĩ, hành động, ứng xử của một con người cụ thể. Do đó, trong văn hóa vừa có tính xã hội, vừa bao gồm cả tính cá nhân, văn hóa vừa là sự phản ánh những quan niệm, những thói quen, những giá trị truyền thống của cộng đồng xã hội, vừa phản ánh tư tưởng, tình cảm, năng lực của mỗi cá nhân. Chính vì lẽ đó mà văn hóa luôn luôn biến đổi, phát triển nhờ sự sáng tạo có ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và thể hiện bản sắc của mỗi tộc người.
Với cách tiếp cận như trên, người ta dễ đi đến nhận xét, đánh giá trình độ phát triển cao hay thaaspp của một nền văn hóa, mà về bản chất văn hóa chỉ thể hiện sự khác nhau giữa các tộc người, chứ không có sự phân biệt cao - thấp trong văn hóa. Chúng ta không thể cho rằng những dân tộc ăn bốc ( dùng mười đầu ngón tay đưa thức ăn vào miệng) là có trình độ thấp hơn các dân tộc dùng thìa, dĩa, đũa trong bữa ăn, hoặc chúng ta cũng không thể kết luận rằng những dân tộc dùng ô tô là có văn hóa cao hơn những dân tộc đi bộ và đi xe đạp. Hiện nay, ở nhiều thị trấn thuộc các nước Bắc Âu, mặc dù đời sống cư dân ở đây vào loại cao nhất thế giới nhưng họ lại thích đi bộ và đi xe đạp.
Nội dung về bản sắc văn hóa của các tộc người ở đây cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng bản sắc văn hóa tộc người chỉ bao gồm những cái gì riêng có của tộc người đó. Nhưng cách hiểu đúng đắn hơn về bản sắc văn hóa là bản sắc văn hóa bao gồm cả cái riêng và cái chung, bao gồm cả những sắc thái văn hóa tộc người, văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại. Chính tổng thể hệ thống những khía cạnh văn hóa đó giúp chúng ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác trong một thế giới mang tính nhân loại.
TS. Phạm Ngọc Trung ( chủ biên): Giáo trình lý luận văn hóa
Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014
Một số định nghĩa tiêu biểu về văn hóa
Văn hóa là một trong những nội dung hết sức phức tạp được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Kể từ năm 1871, khi E.B.Tylor đưa ra định nghĩa về văn hóa, đến nay người ta đã thống kê được khoảng 400 định nghĩa khác nhau về vấn đề này. Tùy theo hướng tiếp cận khác nhau mà mỗi ngành khoa học, thậm chí mỗi nhà khoa học có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cách hiểu của mình. Có thể nêu ra một số hướng tiếp cận chủ yếu sau đây:
+ Hướng tiếp cận theo chức năng của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo giá trị, chuẩn mực của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo phương thức nhấn mạnh hoạt động sản xuất vật chất của các tộc người trong lịch sử để tạo nên văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo ý nghĩa của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận đề cao tính xã hội của văn hóa đối lập với tự nhiên.
+ Hướng tiếp cận đề cao đạo đức, nhân cách con người.
Mỗi hướng tiếp cận nêu trên đều có những đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu khám phá, nghiên cứu bản chất văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện tâm lý khác nhau, cugnx như trong những chiều cạnh khác nhau của những hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên môi trường xã hội và với chính bản thân con người.
Cách đây hai nghìn năm, ngay từ thời La Mã cổ đại, nhà hùng biện Xixezon đã nói tới văn hóa tinh thần và ông đã nhấn mạnh triết học là văn hóa tinh thần. Ở phương Đông, trong nền văn hóa cổ đại Trung Quốc, Mạnh Tử cho rằng văn hóa chính là sự giáo hóa, giáo dục con người.
Từ năm 1774, Puphendooc - luật gia người Đức - đã định nghĩa: văn hóa là toàn bộ hoạt động mang tính xã hội của con người, văn hóa là cái đối lập với tự nhiên.
Một triết gia người Đức cùng thời với Puphendooc, ông Hecde, lại cho rằng: văn hóa là sự sinh ra con người lần thứ hai. Ông muốn nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa.
Trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy ( năm 1871), E.B Taylor đã viết: "Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọt số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội".
Ở định nghĩa này, Taylor đã nhấn mạnh đến những nội dung tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật và các nội dung thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần của con người, đồng thời ông cũng chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa văn hóa với con người với tư cách là thành viên xã hội. Nhưng đáng tiếc tác giả đã đồng nhất khái niệm văn hóa với văn minh, nên không nêu lên được bản chất của văn hóa trong cấu trúc toàn diện cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Nhà văn hóa học người Nga, E.E.Orlova lại cho rằng: "Cần phải hiểu văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa với tư cách một hệ thống."
Cacbop, nhà văn hóa học người Nga định nghĩa: "Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người. Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp, có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội".
Các định nghĩa về văn hóa nói trên đã nêu được tính chỉnh thể, tính hệ thống của văn hóa và nhấn mạnh đến văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người.
A.Mole - một học giả người Pháp lại đồng nghĩa văn hóa với trí tuệ của con người.
Theo Gi.Neru, văn hóa là sự phát triển nội tại của mỗi một con người, là cách ứng xử và cách làm cho người khác hiểu mình.
Năm 1988, nhân dịp lễ phát động Thập kỷ Thế giới phát triển của văn hóa ( 1988 - 1991), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới ( UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống tín ngưỡng."
Trong khi nhiều người quan niệm văn hóa chỉ là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực học thuật, tư tưởng, tinh thần thì học giả Đào Duy Anh quan niệm: "Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý - khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên các phương diện khác nhau của dân tộc đó". Đào Duy Anh tập trung giải thích văn hóa và cách sinh hoạt của con người, là toàn bộ hoạt động sống của con người.
Giáo sư Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: "Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, học vấn...và tùy trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ, xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi từ bàn tay của con người."
Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: "Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình. Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định."
Giáo sư Hà Văn Tấn đã nhấn mạnh đến những hệ thống ứng của con người và những chuẩn mực được thể hiện ra trong mọi sinh hoạt, mọi hành vi, mọi nếp nghĩ, từ cách ăn, cách ở, cách lao động sản xuất đến cách sinh hoạt và ứng xử.
Giáo sư Vũ Khiêu và giáo sư Nguyễn Hồng Phong lại nhấn mạnh đến "tính Người" của văn hóa. Các tác giả quan niệm rằng: Văn hóa là nhân hóa, là sự phát triển, tách rời của con người khỏi giới động vật.
Giáo sư Trần Ngọc Thêm theo cách tiếp cận hệ thống và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản của văn hóa đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội."
Trong định nghĩa văn hóa của mình, giáo sư Trần Ngọc Thêm đã nhấn mạnh đến tính hệ thống, tính giá trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị nhất thời, giá trị và phi giá trị....), tính nhân sihn và tính lịch sử ( nói đến quá trình tích lũy, trình độ phát triển, truyền thống văn hóa, những khuôn mẫu được đúc kết thành phong tục, tập quán...)
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc có một cách tiếp cận khái niệm văn hóa độc đáo. Ông cho rằng văn hóa chính là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại, là sự lựa chọn của con người.
Trong cuốn sách Văn hóa học Việt Nam, sau khi thống kê một số định nghĩa khác nhau về văn hóa, Nguyễn Đăng Duy đã cho rằng: Nếu xem xét văn hóa dưới góc độ toàn bộ những giá trị vật chất thì chưa ổn. Bởi vì, có những giá trị vật chất do con người sáng tạo ra những không thể gọi là văn hóa như vũ khí chẳng hạn. Hoặc cho rằng những gì không thuộc về tự nhiên thì thuộc về văn hóa cũng chưa thuyết phục vì có những cái trung tính như thóc gạo làm ra không phải là văn hóa mà chỉ là sản phẩm của văn minh. Ông cũng cho rằng, nhiều định nghĩa về văn hóa tập trung thể hiện văn hóa bao gồm và được biểu hiện ra ở những mặt nào, chưa chưa nói lên được văn hóa là gì theo đúng nghĩa khoa học. Mặt khác, các định nghĩa chưa đề cập được hai đặc tính của văn hóa: vừa là mục tiêu vươn tới, vừa là động lực thúc đẩy phát triển xã hội.
Theo Nguyễn Đăng Duy, "Văn hóa là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong mọi lối sống, nếp sống vật chất và tinh thần của một cộng đồng người hay một quốc gia."
Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mac- Lenin của khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, sau khi phân tích, kế thừa kiến thức của nhà khoa học trong và ngoài nước đã định nghĩa văn hóa như sau: " Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc".
Trong định nghĩa này, nhóm tác giả đã nhấn mạnh một số tính chất cơ bản của văn hóa, đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính thực tiễn, tính xã hội, tính kế thừa, tính đặc trưng của mỗi dân tộc.
Theo Từ điển triết học, "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kihn nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần ( khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục...) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội."
Từ điển Petit Larousse của Pháp định nghĩa: văn hóa là toàn thể những cấu trúc xã hội, tôn giáo....những biểu thị trí tuệ, nghệ thuật....đặc tính của xã hội.
Malinowki thì cho rằng: Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị.
L.White định nghĩa: Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng hoặc phụ thuộc vào biểu trưng đó.
Giáo sư Phạm Xuân Nam đinh nghĩa: Văn hóa là sự hiểu biết của con người, nó định hướng cho cách ứng xử và bao gồm những cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất.
+ Hướng tiếp cận theo chức năng của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo giá trị, chuẩn mực của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo phương thức nhấn mạnh hoạt động sản xuất vật chất của các tộc người trong lịch sử để tạo nên văn hóa.
+ Hướng tiếp cận theo ý nghĩa của văn hóa.
+ Hướng tiếp cận đề cao tính xã hội của văn hóa đối lập với tự nhiên.
+ Hướng tiếp cận đề cao đạo đức, nhân cách con người.
Mỗi hướng tiếp cận nêu trên đều có những đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu khám phá, nghiên cứu bản chất văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện tâm lý khác nhau, cugnx như trong những chiều cạnh khác nhau của những hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên môi trường xã hội và với chính bản thân con người.
Cách đây hai nghìn năm, ngay từ thời La Mã cổ đại, nhà hùng biện Xixezon đã nói tới văn hóa tinh thần và ông đã nhấn mạnh triết học là văn hóa tinh thần. Ở phương Đông, trong nền văn hóa cổ đại Trung Quốc, Mạnh Tử cho rằng văn hóa chính là sự giáo hóa, giáo dục con người.
Từ năm 1774, Puphendooc - luật gia người Đức - đã định nghĩa: văn hóa là toàn bộ hoạt động mang tính xã hội của con người, văn hóa là cái đối lập với tự nhiên.
Một triết gia người Đức cùng thời với Puphendooc, ông Hecde, lại cho rằng: văn hóa là sự sinh ra con người lần thứ hai. Ông muốn nhấn mạnh đến tính xã hội của văn hóa.
Trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy ( năm 1871), E.B Taylor đã viết: "Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọt số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội".
Ở định nghĩa này, Taylor đã nhấn mạnh đến những nội dung tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật và các nội dung thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần của con người, đồng thời ông cũng chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa văn hóa với con người với tư cách là thành viên xã hội. Nhưng đáng tiếc tác giả đã đồng nhất khái niệm văn hóa với văn minh, nên không nêu lên được bản chất của văn hóa trong cấu trúc toàn diện cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Nhà văn hóa học người Nga, E.E.Orlova lại cho rằng: "Cần phải hiểu văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa với tư cách một hệ thống."
Cacbop, nhà văn hóa học người Nga định nghĩa: "Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người. Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp, có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội".
Các định nghĩa về văn hóa nói trên đã nêu được tính chỉnh thể, tính hệ thống của văn hóa và nhấn mạnh đến văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người.
A.Mole - một học giả người Pháp lại đồng nghĩa văn hóa với trí tuệ của con người.
Theo Gi.Neru, văn hóa là sự phát triển nội tại của mỗi một con người, là cách ứng xử và cách làm cho người khác hiểu mình.
Năm 1988, nhân dịp lễ phát động Thập kỷ Thế giới phát triển của văn hóa ( 1988 - 1991), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới ( UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống tín ngưỡng."
Trong khi nhiều người quan niệm văn hóa chỉ là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực học thuật, tư tưởng, tinh thần thì học giả Đào Duy Anh quan niệm: "Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý - khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên các phương diện khác nhau của dân tộc đó". Đào Duy Anh tập trung giải thích văn hóa và cách sinh hoạt của con người, là toàn bộ hoạt động sống của con người.
Giáo sư Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: "Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, học vấn...và tùy trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ, xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi từ bàn tay của con người."
Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: "Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình. Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định."
Giáo sư Hà Văn Tấn đã nhấn mạnh đến những hệ thống ứng của con người và những chuẩn mực được thể hiện ra trong mọi sinh hoạt, mọi hành vi, mọi nếp nghĩ, từ cách ăn, cách ở, cách lao động sản xuất đến cách sinh hoạt và ứng xử.
Giáo sư Vũ Khiêu và giáo sư Nguyễn Hồng Phong lại nhấn mạnh đến "tính Người" của văn hóa. Các tác giả quan niệm rằng: Văn hóa là nhân hóa, là sự phát triển, tách rời của con người khỏi giới động vật.
Giáo sư Trần Ngọc Thêm theo cách tiếp cận hệ thống và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản của văn hóa đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội."
Trong định nghĩa văn hóa của mình, giáo sư Trần Ngọc Thêm đã nhấn mạnh đến tính hệ thống, tính giá trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị nhất thời, giá trị và phi giá trị....), tính nhân sihn và tính lịch sử ( nói đến quá trình tích lũy, trình độ phát triển, truyền thống văn hóa, những khuôn mẫu được đúc kết thành phong tục, tập quán...)
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc có một cách tiếp cận khái niệm văn hóa độc đáo. Ông cho rằng văn hóa chính là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại, là sự lựa chọn của con người.
Trong cuốn sách Văn hóa học Việt Nam, sau khi thống kê một số định nghĩa khác nhau về văn hóa, Nguyễn Đăng Duy đã cho rằng: Nếu xem xét văn hóa dưới góc độ toàn bộ những giá trị vật chất thì chưa ổn. Bởi vì, có những giá trị vật chất do con người sáng tạo ra những không thể gọi là văn hóa như vũ khí chẳng hạn. Hoặc cho rằng những gì không thuộc về tự nhiên thì thuộc về văn hóa cũng chưa thuyết phục vì có những cái trung tính như thóc gạo làm ra không phải là văn hóa mà chỉ là sản phẩm của văn minh. Ông cũng cho rằng, nhiều định nghĩa về văn hóa tập trung thể hiện văn hóa bao gồm và được biểu hiện ra ở những mặt nào, chưa chưa nói lên được văn hóa là gì theo đúng nghĩa khoa học. Mặt khác, các định nghĩa chưa đề cập được hai đặc tính của văn hóa: vừa là mục tiêu vươn tới, vừa là động lực thúc đẩy phát triển xã hội.
Theo Nguyễn Đăng Duy, "Văn hóa là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong mọi lối sống, nếp sống vật chất và tinh thần của một cộng đồng người hay một quốc gia."
Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mac- Lenin của khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, sau khi phân tích, kế thừa kiến thức của nhà khoa học trong và ngoài nước đã định nghĩa văn hóa như sau: " Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc".
Trong định nghĩa này, nhóm tác giả đã nhấn mạnh một số tính chất cơ bản của văn hóa, đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính thực tiễn, tính xã hội, tính kế thừa, tính đặc trưng của mỗi dân tộc.
Theo Từ điển triết học, "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kihn nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần ( khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục...) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội."
Từ điển Petit Larousse của Pháp định nghĩa: văn hóa là toàn thể những cấu trúc xã hội, tôn giáo....những biểu thị trí tuệ, nghệ thuật....đặc tính của xã hội.
Malinowki thì cho rằng: Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị.
L.White định nghĩa: Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng hoặc phụ thuộc vào biểu trưng đó.
Giáo sư Phạm Xuân Nam đinh nghĩa: Văn hóa là sự hiểu biết của con người, nó định hướng cho cách ứng xử và bao gồm những cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất.
TS. Phạm Ngọc Trung ( Chủ biên): Giáo trình lý luận văn hóa
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)